Close
Dự án

Công ty HD Việt Nam là một công ty chuyên thiết kế, lắp đặt, sản xuất thiết bị truyền hình, vì vậy, chúng tôi cung cấp những giải pháp mang lại sự hiệu quả một cách tối ưu trong lĩnh vực này.

1. Mở đầu

Truyền hình là lĩnh vực công nghệ cao với rất nhiều nhà sản xuất tham gia vào thị trường hàng năm và cũng rất nhiều hãng phải ra khỏi thị trường hay bị thâu tóm, sát nhập.
Trước đây, thị trường truyền hình được kiểm soát bởi các hãng lớn trong ngành như SONY hay PANASONIC, PHILLIPS.... sau một thời gian, khi công nghệ truyền hình thay đổi từ tương tự sang số và từ độ phân giải thấp sang độ phân giải cao, nhiều hãng một thời vang bóng đã không còn tên trên thị trường. Trong số đó chúng ta có thể kể đến các công ty như Phillips, Leitch, Truevision, Targa...
Sản phẩm của các công ty được mua lại thường vẫn tiếp tục được sản xuất. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các sản phẩm bị lọai bỏ khỏi thị trường và không còn dòng sản phẩm thay thế.
Trong thị trường thiết bị truyền hình, thị trường sản phẩm phụ trợ cho truyền hình là thị trường rất đặc trưng. Thiết bị phụ trợ có giá trị không lớn nhưng trong các hệ thống tích hợp, tổng giá trị các thiết bị phụ trợ lại chiếm một tỉ trọng đáng kể của đầu tư.
Khác với các sản phẩn chính của truyền hình, các sản phẩm phụ trợ thường được thiết kế theo module để đảm bảo khả năng thích ứng của thiết bị trong nhiều tích hợp khác nhau theo yêu cầu của từng hệ thống. Với xu thế thu nhỏ nhanh chóng của linh kiện điện tử, các thiết bị phụ trợ ngày càng bành trướng, chiếm dần chức năng của các thiết bị chính trong hệ thống truyền hình. Nếu như cách đây 10 năm, thiết bị phụ trợ thường chỉ là các bộ chuyển đổi AD, DA, các bộ khuếch đại phân chia hình, tiếng thì hiện tại, các thiết bị phụ trợ đã bao gồm một mảng lớn các thiết bị truyền hình từ các thiết bị truyền thống, được mở rộng thêm thành các thiết bị xử lý video như sửa màu, lọc nhiễu, đồng bộ mành, bộ trễ, thiết bị mux, demux tiếng, thiết bị cài logo, key hình, mixer hình thậm chí cả router, chuyển đổi tự động audio mixer, audio compressor/limiter, multiview, mpeg-4 encoder, Optical transceiver....
Như vậy, thiết bị phụ trợ đang dần trở thành thiết bị chủ yếu quan trọng trong việc tích hợp một hệ thống truyền hình.
Vấn đề lớn nhất mà các đơn vị truyền hình gặp phải là việc quá nhiều tiêu chuẩn module phụ trợ. Mỗi hãng sản xuất tự đưa ra chuẩn riêng, không cho phép cắp lẫn các thiết bị của hãng khác và không cho phép tạo một giao diện điều khiển chung cho các hãng cung cấp khác nhau. Nhiều tiêu chuẩn dẫn tới việc tốn không gian bởi khi cần thiết bị của hãng nào thì phải mua khung cắm cạc của hãng đó. Khi cần thay thê một module thì phần lớn trường hợp là phải thay cả khung cắm cạc. Việc buộc phải sử dụng nhiều loại khung cắm cạc do lịch sử để lại hoặc do tình thế bắt buộc gây nhiều phiền toái cho nhà đài, giảm khả năng dự phòng và giảm hiệu quả đầu tư.

2. Giải pháp Opengear

Để giải quyết vấn đề đau đầu của các đơn vị làm truyền hình trong thời đại mới, Ross Video, nhà sản xuất thiệt bị video chuyên nghiệp từ Canada đã đưa ra giải pháp OPENGEAR- Tiêu chuẩn cắm lẫn chung cho thiết bị phụ trợ.
OpenGear xuất hiện lần đầu tiên năm 2008 và được các hãng sản xuất thiết bị phụ trợ truyền hình nhiệt liệt hoan nghênh. Tính đến năm 2010, đã có hơn 22 nhà sản xuất thiết bị tham gia tổ chức này và sản xuất sản phẩm tuân thủ theo yêu cầu cắm lẫn của Rossgear.
Tiêu chuẩn Opengear dựa trên khung cắm cạc 2 RU với 01 nguồn hoặc 02 nguồn, với tùy chọn điều khiển từ xa toàn bộ các cạc cắm trong frame thông qua một cổng ethernet duy nhất ở frame.
Tiêu chuẩn kỹ thuật của Frame như sau: • 2RU frame houses up to 20 openGear cards
• 20 OpenGear cạc trong khung cắm 2 RU
• Hỗ trợ cắm lẫn bất kỳ môđul analogue, số, video audio nào trong cùng frame
• Đầu cuối I/O có cấu trúc modular để thích hợp với module sử dụng
• Tấm mặt có thể tháo được để dễ dàng sửa quạt làm mát.
• 02 đường đồng bộ độc lập có loop với kết nối đến từng cạc
• Nguồn 150w với quát tích hợp
• Nguồn dự phòng đạt tiêu chuẩn cắm nóng 24/7
• Công tắc nguồn thao tác từ mặt trước
• Nguồn thay nóng từ phía trước
• Lựa chọn điều khiển qua mạng để setup, giám sát và điều khiển
• Lựa chọn SNMP để điều khiển và giám sát
• Bảo hành 5 năm
Điều đặc biệt khiến OpenGear khiến các nhà đài quan tâm là khả năng điều khiển, kiểm soát và giám sát từ xa các cạc OpenGear thông qua bộ phần mềm Dashboard.
Dashboard là bộ phần mềm mã nguồn mở. Chính vì lẽ đó, nó rất được yêu chuộng bởi các nhà phát triển. Các nhà phát triển liên tục cập nhật Dashboard thêm những tính năng mới và thêm khả năng điều khiển các module mới.
Với Dashboard, toàn bộ thiết bi phụ trợ có thể được điều khiển từ một máy tính duy nhất. Hệ thống sẽ tự nhận diện bất kỳ module nào được cắm nóng vào khung cắm cạc.
Dashboard có lựa chọn trả tiền cho phép giả lập sơ đồ hệ thống kèm với điều khiển từng thiết bị trên sơ đồ.
Với số lượng nhà sản xuất tham gia lớn, Opengear cho phép nhà đài có được lựa chọn thiết bị tốt nhất với đầu tư hợp lý nhất. Trong trường hợp cần thiết phải thay đổi thiết bị, nhà đầu tư có thể tìm tới bất kỳ nhà sản xuất khác và thay thế cạc lỗi thời thành cạc mới mà không cần thay đổi đi dây, thay đổi điều khiển hay làm bất kỳ việc gì khác.

3. Opengear sản xuất tại Việt nam.

Ngày 15/12/2010, công ty HD Việt nam đã chính thức tham gia tổ chức OpenGear và trở thành một trong các thành viên của tổ chức này.
Với kinh nghiệm tích hợp hệ thống và với thời gian dài theo sát đội ngũ kỹ thuật của các đài truyền hình để nghiên cứu và vận hành các hệ thống tự động hóa, HD Việt nam đã xác định được nhu cầu thật sự của các đài truyền hình để thiết kế các thiết bị phụ trợ phù hợp với thực tế và yêu cầu khai thác.
Sản phầm OpenGear của HD Việt nam bao gồm:
HD DA : khuếch đại phân chia 3G/HD/SD-SDI, Re-locked.
HD Syn: Bộ đồng bộ mành tiêu chuẩn 3G/HD/SD-SDI, Re-locked
HD AFD: Bộ cài tín hiệu định nghĩa khung hình 3G/HD/SD-SDI, Re-locked
HD Logo: Bộ cài logo với nhiều lớp logo điều khiển độc lập bằng phần mềm và bằng bàn điều khiển từ xa
HD Keyer: Key đồ họa lên sóng vào video theo tiêu chuẩn 3G/HD/SD-SDI, Re-locked
HD mixer: Tùy chọn điều chỉnh mức âm thanh và trộn các đường âm thanh ở tín hiệu 3G/HD/SD-SDI,
HD Compressor: Tùy chọn xử lý âm thanh, nén giải động, tự động điều chỉnh mức âm thanh để xử lý khác biệt về mức âm thanh giữa các chương trình phát sóng, đảm bảo mức phát sóng nằm trong khoảng cho phép.
HD Tally: Cạc xử lý thông tin điều khiển router để ra quyết định đóng mạch tally cho các thiết bị hiển thị và đèn tally. Có khả năng đọc thông tin từ cổng Ethernet hoặc RS-422.
CP-8E: Bàn điều khiển từ xa cho cạc logo, keyer
CP-8VE: Bàn điều khiển chiết áp cho các option điều chỉnh âm thanh.
Một số lớn thiết bị này đã được sản xuất và đang được sử dụng cho các kênh K+1 SD, K+2 SD, K+1 HD, K+2 HD và VTV1, VTV2, VTV5 đã chứng tỏ được chất lượng, tính ổn định và hiệu quả kinh tế cho các đài.
Các sản phẩm mới đang tiếp tục được HD Việt nam nghiên cứu và phát triển. Chúng tôi mong muốn được sự ủng hộ của các đơn vị truyền hình ở Việt nam để các thiết bị truyền hình made in Việt nam có cơ hội được phát triển và vươn lên.

1. ĐẶC ĐIỂM CỦA PHẦN MỀM DÙNG CHO TRUYỀN HÌNH

Phần mềm trong lĩnh vực truyền hình về cơ bản có thể chia làm hai loại chính:
- Phần mềm chức năng như các phần mềm dựng, đồ họa, bắn chữ..
- Phần mềm quản lý, tự động hóa và tiện ích
Phần mềm chức năng thường là các bộ phần mềm được phát triển trong thời gian dài của các hãng phần mềm lớn trên thế giới. Các phần mềm quản lý, tự động hóa và tiện ích do đặc trưng của nó, phần lớn phát triển bởi các hãng tích hợp hệ thống.

Thời gian phát triển của phần mềm chức năng có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng triển khai rộng rãi của phần mềm. Các bộ phần mềm thông dụng để có thể được cài đặt trên bất kỳ máy tính nào phải trải qua thời gian thử nghiệm beta rất dài trên một số lượng máy tính rất lớn, nhờ thế, các lỗi phần mềm mới có cơ hội bộc lộ và được vá sửa trước khi bản chính thức có thể được đưa ra thị trường.
Các hãng phần mểm chuyên dụng không có nhiều thời gian để test sản phẩm trên quy mô lớn. Chính vì vậy, xác suất cài thành công một hệ thống phần mềm trên một hệt thống phần cứng bất kỳ là không cao. Để giải quyết vấn đề đó, phần lớn các phần mềm trong ngành truyền hình đều có khuyến cáo cấu hình. Khuyến cáo đấy thực chất là cấu hình thiết bị mà đơn vị phần mềm đã test. Các cấu hình chưa test có thể không đạt được kết quả như ý muốn.
Với các hệ thống phần mềm quản lý và tự động hóa, tình hình càng phức tạp hơn. Ngành truyền hình với hàng ngàn sản phẩm khác nhau và được phát triển dựa trên rất nhiều tiêu chuẩn quốc tế và cũng không ít khuyến cáo hoặc các tiêu chuẩn của hãng tự đề ra tạo nên một môi trường cực kỳ thiếu thuận lợi cho việc triển khai đại trà các phần mềm quản lý, tự động hóa và tiện ích.
Phần mềm đi theo phần cứng và hệ thống phần mềm có nhiều lỗi trong mã vì thế, bắt buộc phải được triển khai bởi đội ngũ chuyên nghiệp có khả năng can thiệp tới mã nguồn là đặc trưng cơ bản của phần mềm dùng trong truyền hình.

2. CƠ HỘI CỦA PHẦN MỀM TIẾNG VIỆT

Chính đặc trưng của sản phẩm phần mềm dùng trong truyền hình, nhất là các sản phầm quản lý, tự động hóa và tiện ích là cơ hội cho đội ngũ phát triển phần mềm tiếng việt.
Phần mềm tiếng việt với giao diện tiếng việt dễ đọc dễ hiểu và dễ khai thác từ nhiều năm nay là mong muốn của các cán bộ quản lý và kỹ thuật truyền hình. Việc thực hiện các phần mềm tiếng Việt phục vụ ngành truyền hình càng trở nên cấp thiết hơn khi quá trình hội nhập Truyền hình- Truyền thông- Máy tính càng ngày càng trở nên sôi động.
Nhu cầu phần mềm tiếng việt xuất phát từ thực tế của ngành với số lượng cán bộ thông thạo ngoại ngữ không nhiều. Phần lớn kỹ thuật và biên tập sử dụng các hệ thống kỹ thuật không rành tiếng anh nên khi giao tiếp với các hệ thống phức tạp, có nhiều menu và dày đặc các loại thông báo thì đều có tâm lý chung là ngại. E ngại sẽ dẫn đến việc tránh xa các hệ thống phần mềm được đầu tư mà tiếp tục sử dụng các hệ thống cũ, hiệu quả thấp hơn, đầu tư lớn hơn nhưng không cần phải học sử dụng và không phải căng thẳng vì không hiểu các thông báo của phần mêm nên dễ ra các động tác sai làm dừng hệ thống, xóa dữ liệu hay mất sóng.
Đầu tư hệ thống iNews của truyền hình Việt nam là ví dụ điển hình. Mặc dù hệ thống Inews được sử dụng rộng rãi trên thế giới nhưng khi về Việt nam nó trở thành xe quá khổ trên đường phố Hà nội. Với khả năng giao tiếp có hạn của kỹ thuật viên và biên tập, hệ thống đã không được khai thác với khả năng sẵn có của mình. Một số ý kiến cho rằng, hệ thống không được tích hợp hoàn chỉnh nên không thể khai thác tốt, một số khác cho rằng, hệ thống phần mềm gây lỗi phông tiếng việt, số khác nhận thấy thời gian lên sóng theo quy trình của inews không được cải thiện mà thậm chí còn lâu hơn quy trình hiện tại nên không khuyến khích biên tập sử dụng. Theo chúng tôi trong rất nhiều lý do, có một lý do là người sử dụng cuối cùng chưa muốn sử dụng nó do yếu tố tâm lý và do tính cồng kềnh của giải pháp khi áp vào thực tế việt nam.
Như vậy phần mềm việt nam không chỉ giải quyết được vấn đề tâm lý của người sử dụng mà nó còn có ý nghĩa như là một giải pháp may đo phù hợp với thực tế và nhu cầu khai thác của người việt.
Do quá trình hội tụ công nghệ Truyền hình- Truyền thông- Máy tính, việc IT hóa toàn bộ các khâu sản xuất, truyền dẫn, phát sóng và lưu trữ đã là xu thế không thể đảo ngược và hiện đang diễn ra mạnh mẽ ở trong toàn ngành truyền hình. IT hóa các khâu của truyền hình đều mang đến những lợi ích lớn: Giảm mạnh chi phí đầu tư, chi phi khai thác, chi phí bảo hành bảo trì và chi phí nhân công.
Trong ngành truyền hình, chúng ta có thể thấy các năm gần đây, việc đầu tư các bộ dựng phi tuyến đã trở nên phổ biến. Các bộ dựng tuyến tính không còn nằm trong danh mục đầu tư của các Đài. Công nghệ dựng hình trên máy tính đang dần trở nên phổ cập. Do phần mềm dựng hình đã có thời gian rất dài cọ xát với các cán bộ truyền hình, các phần mềm dựng hình cơ bản như Adobe Premier đã trở thành phần mềm thông dụng như Word hay Exel của Microsoft đối với truyền hình. Trong vài năm tới, tất cả biên tập viên của truyền hình cũng sẽ sử dụng phần mềm này như phần mềm soạn thảo văn bản để phục vụ cho mục đích "soạn thảo chương trình" của mình.
Sự phát triển mạnh của các bộ dựng phi tuyến ở các Đài đưa đến một nghịch lý lớn là việc sử dụng các bộ dựng phi tuyến, tuy tiết kiệm được nhiều về chi phí đầu tư nhưng không cải thiện được thời gian làm việc, thậm chí, đối với các chương trình với yêu cầu dựng đơn giản còn bị tốn quá nhiều thời gian. Đối với các chương trình không cầu kỳ, việc dựng cắt được thực hiện rất nhanh với thời gian chủ yếu của biên tập viên là chọn cảnh. Chọn xong cảnh để "vá" vào băng thành phẩm xong cũng là thời điểm kết thúc công việc.
Để làm chương trình tương tự, thời gian gần như gấp 3 lần: Ghi vào đĩa cứng, chọn cảnh, xuất trả lại băng.
Câu trả lời rõ ràng của biên tập ở thời gian đầu trong trường hợp này là: phản đối phi tuyến, tiếp tục với các hệ thống dựng cắt cũ.
Để có thể đưa biên tập vào được với bộ dựng phi tuyến, vấn đề rõ ràng cần giải quyết là vấn đề giảm thiểu thời gian lên sóng.
Phần lớn các đài truyền hình đã tìm ra lời giải cho bài toán đó. Phần lớn các đài đều bằng cách này hay cách khác tìm cách kết nối mạng máy tính và phát sóng từ server, từ máy tính hay từ bất kỳ bộ dựng nào mà đài có. Mục đích chỉ để giảm thời gian từ sản xuất tới lên sóng.
Với hệ thống phát sóng kết nối mạng, đầu ra của bộ dựng phi tuyến đã được đảm bảo. Nhờ đó, việc xuất trả băng là không cần thiết. Thời gian tiết kiệm được 1/3
Các giải pháp ghi hình lên thẻ nhớ, đĩa cứng, đĩa quang là giải pháp tuyệt vời để giảm thời gian số hóa, đưa dữ liệu vào hệ thống. Nhờ các công nghệ lưu trữ mới này, việc ghi hình lên ổ cứng của hệ thống được tăng tốc nhiều lần và việc chọn thô cảnh để đưa vào hệ thống lưu trữ chung thành công việc đơn giản và hiệu quả. Thời gian rút gọn được cho công đoạn này là đáng kể.
Như vậy giải pháp IT đồng bộ mới cho phép giảm được thời gian thực hiện chương trình. Một khi việc sản xuât, việc duyệt chương trình, nhận tin và lưu trữ chương trình qua mạng đã trở nên dễ dàng, đơn giản và hiệu quả thì đài thực chất đã trở thành một hệt thống IT hoàn chỉnh.
Đây chính là thời điểm thích hợp cho các phần mềm quản lý và tự động hóa phát huy tác dụng.
Các phần mềm tiếng việt không thể cạnh tranh được với các phần mềm ngoại ở phần mềm chức năng. Tuy nhiên, toàn bộ các phần mềm quản lý, tự động hóa và tiện ích còn lại để kết nối tất cả thành một hệ thống thống nhất, rút gọn thời gian lên sóng, kiểm soát chặt nội dung lên sóng và quản lý tốt nội dung số là nơi phần mềm tiếng việt có cơ hội và thực sự đã chứng minh được tính vượt trội của nó.

3. THỰC TẾ TRIỂN KHAI PHẦN MỀM TIẾNG VIỆT

Năm 2007 là năm đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện phần mềm tiếng Việt thương mại trong lĩnh vực tích hợp của truyền hình với sự lên sóng và hoạt động ổn định của hệ thống phát sóng tự động phục vụ kênh VTV3 và VTV6. Trước đó, đã có rất nhiều phần mềm tiếng Việt được trung tâm kỹ thuật của VTV thực hiện phục vụ nhu cầu bắn chữ theo kịch bản riêng và phục vụ các game show. Các ứng dụng chuyên biệt này đã có đóng góp nhiều cho các chương trình truyền hình và cho các sự kiện thể thao lớn như SEAGAME. Tuy nhiên đây chỉ mới là các ứng dụng chuyên biệt trong lĩnh vực CG và không được thương mại hóa. Các cán bộ kỹ thuật của Đài Truyền hình TP HCM cũng đã thực hiện nhiều phần mềm tiếng việt để phục vụ công tác hàng ngày của mình, trong đó đáng kể nhất là hợp tác thực hiện bộ phần mềm phát sóng phục vụ truyền hình cáp với khả năng cắt chèn quảng cáo lên các chương trình từ vệ tinh mà hiện đang được khai thác hiệu quả ở HTVC hay các hệ thống phát sóng dựa trên PC cùng cạc Declink và các bộ làm trễ tín hiệu truyền hình phục vụ kiểm soát nội dung là những ứng dụng được các kỹ sư đài HTV tham gia thiết kế và tạo ra được sản phẩm. Tuy nhiên các phần mềm này phần lớn không được thương mại hóa.
Từ hệ thống tự động hoá công tác phát sóng đầu tiên, đến nay công ty TNHH HD Việt nam đã có hơn ba năm để hoàn thiện hệ thống và phát triển hệ thống quản lý hoàn chỉnh tạo thành bộ phần mềm hoàn chỉnh nhất phục vụ ngành truyền hình.

4. ĐẶC TRƯNG CỦA HỆT THỐNG PHẦN MỀM CỦA HD VIỆT NAM

Hệ thống phần mềm của HD Việt nam là hệ thống quản lý thống nhất dựa trên cấu trúc CSLD trung tâm. Mọi tác động lên hệ thống đều thông qua CSDL. Mọi trao đổi của các hệ thống truyền hình đều thông qua CSDL. Đây là cấu trúc quản lý hoàn toàn mới dựa trên hệ thống quản Tài nguyên số thống nhất cho đài truyền hình. Cấu trúc thống nhất bao trùm tất cả mọi lĩnh vực của truyền hình và tương tác trực tiếp bằng CSDL với các thiết bị trong dây chuyền truyền hình là cấu trúc duy nhất hiện nay.
Để hiểu được cấu trúc, chúng ta cần tìm hiểu các hệ thống quản lý đặc trưng hiện tại trên thế giới. Phần lớn các hệ thống tự động hóa hiện tại đều chỉ quản lý và tự động hóa quá trình lên sóng video qua giao thức VDCP. Các hệ thống tự động hóa lớn hoạt động kết hợp với hệ thống quản lý tài nguyên số cho phép tự động hóa công tác lên sóng và tạo kiểm soát thống nhất từ khi có được sản phẩm trong hệ thống đến khi lên sóng. Có nghĩa là hệ thống chỉ bắt đầu quản lý khi có media có thể lên sóng được trong hệ thống.
Để quản lý quá trình xảy ra trước có được media, các hệ thống hiện tại chỉ cung cấp công cụ làm tin theo kiểu Inews. Hệ thống Inews sẽ nặng về tự động hóa chương trình làm tin trực tiếp nhiều hơn là quản lý tin, bài, phóng sự, kịch bản như vẫn thường có ở Việt nam.
Các hệ thống làm tin cũng thường rất nặng nề và chủ yếu để phục vụ các chương trình chuyên môn hóa cho thời sự. Để giao tiếp với các hệ thống khác như server và promter, các hệ thống news vẫn phải sử dụng giao thức MOS để giao tiếp. Giao thức này rất chậm và phức tạp bởi các máy tính phải trao đổi với nhau bằng văn bản mà bản chất không khác gì “công văn”.
Hiện tại cũng không có kết nối hợp lý giữa các hệ thống news và hệ thống automation cho phát sóng.
Các hệ thống đồ họa lên sóng hiện tại cũng đang trở thành khu vực riêng biệt. Các hệ thống tự động hóa như Harris, Omibus, Etere ... đều phải tác động vào hệ thống đồ họa thông qua việc lập trình sự kiện phụ mà bản chất chỉ là các lệnh qua GPIO (Cổng điều khiển vào ra chung) theo xung đóng mạch hoặc mở mạch. Để không lẫn sự kiện, các sự kiện được đánh số và bắt buộc người vận hành phải tự đồng bộ tên các sự kiện ở 02 hệ thống: hệ thống tự động hóa và hệ thống đồ họa.
Hệ thống hậu phát sóng như Billing cũng không có trao đổi chính thức với hệ thống tự động hóa. Các trao đổi cũng xảy ra thông qua các file text không chuẩn hóa giữa 02 hệ thống.
Như thế chung ta có thể thấy, việc quản lý thống nhất trong truyền hình thế giới vẫn là một thách thức.
Với cấu trúc mới dựa hòan toàn trên CSDL, HD Việt nam đã tạo ra một giải pháp với ưu thế lớn, cho phép đơn giản hóa tòan bộ cấu hình hệ thống, bỏ qua rất nhiều các giao tiếp phức tạp và nhờ đó tăng tốc được quá trình trao đổi dữ liệu, giảm chi phí đầu tư và tăng được tính ổn định của hệ thống phát triển dựa trên cấu trúc này.

5. CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHẦN MỀM CỦA HD VIỆT NAM

Bộ phần mềm của HD Việt nam gồm các bộ sau:
1. HD Automation là bộ phần mềm hoàn chỉnh đầu tiên cho đài truyền hình để tự động hóa tất cả các khâu từ sản xuất chương trình, duyệt nội dung, lập lịch, phát sóng, lưu trữ, lập lịch đồ họa và tự động cài đồ họa theo lịch lên tín hiệu truyền hình.
Bộ chương trình HD Automation gồm các module phần mềm sau:
1. HD logger
2. HD Ingest
3. HD Scheduler
4. HD Playlist pro
5. HD Loader
6. HD Approve
7. HD Preview
8. HD Playout
9. HD Manager
10. HD Mirrowing
HD logger được sử dụng để nhập metadata cho các clip hoặc các băng video. Thông tin cần nhập bao gồm mã băng, tên chương trình, mark in, mark out, thời lượng, tác giả, nội dung chương trình và một số thông tin quản lý khác như phân cảnh và nội dung phân cảnh... HD ingest sử dụng thông tin metadata của các clip và tự động nạp video từ VTR và các nguồn live vào server. Phần mềm này ghi timecode của băng thẳng vào clip để nội dung số thống nhất với nhau ở điểm timecode.
HD scheduler sử dụng thông tin metadata để lập lịch phát sóng. Lịch sẽ chỉ rõ clip có media đính kèm hay không qua hiển thị màu sắc cũng như cho biết chính xác trạng thái sản xuất của chương trình trong hệ thống (ví dụ “đã dựng, chờ lồng tiếng v.v..” phần mềm cho phép lập lịch bất kỳ ngày nào trong tương lai. Lịch được quản lý trên CSDL nên tất cả các máy tính chạy phần mềm lập lịch HD playlist pro đều có thể thấy cùng một nội dung nhất quán. Nhiều người có thể tham gia lập lịch cùng nhau. Các ngày đã qua và ngày phát sóng hiện tại được khóa, không cho phép sửa đổi. Phần mềm quản lý phân quyền cho người sử dụng bằng passwword. Người sử dụng có thể có quyền xem hoặc quyền sửa lịch.
HD Playlist pro là phần mềm lập lịch trên các máy tính nối mạng, không phải là máy tính phát sóng. Phần mềm này có đầy đủ tính năng của phần mềm HD Scheduler tuy nhiên chỉ có thể lập lịch được cho các ngày không phải ngày hiện tại.
HD Loader là phần mềm để kết nối metadata với media (video/audio file). Nó cho phép đưa clip từ các bộ dựng phi tuyến trực tiếp vào hệ thống server, kiểm ra tính tương thích của clip với hệ thống và tạo kết nối giữa metadata với media đồng thời cập nhất thông tin metadata vào cơ sở dữ liệu để hệ thống sử dụng. HD Loader cần một kênh video của server phát sóng để kiểm tra file trước khi chấp nhận file. Bất kỳ file nào đưa vào hệ thống cũng được phần mềm nạp thử vào kênh phát sóng này, phát lại với tốc độ cao từ đầu đến cuối file. Nếu không xảy ra lỗi, file sẽ được chấp nhận.
HD Approve cho phép xem trước các clip đã được load vào server phát sóng và cho phép ghi lại nhận xét, yêu cầu sửa chữa hay biên tập lại các clips này. Các nhận xét này được toàn mạng nhìn thấy với thời gian thực. Một khi clip được chấp nhận, hệ thống ghi lại mã của người phê duyệt phát sóng. Một khi chấp nhận cho phát một chương trình, phần mềm sẽ yêu cầu mã của người duyệt chương trình. Tên người duyệt được lưu lại trên cơ sở dữ liệu để làm cơ sở cho việc xử lý sự cố sau này. HD Approve cũng cần một kênh phát của server để phát lại chương trình ở độ phân giải thực, đảm bảo tính trung thực của kiểm duyệt cuối cùng.
HD Preview cho phép phát thử chương trình phát sóng theo đúng lịch phát sóng. HD Playout phát các clíp trong 02 server phát sóng chính xác đến từng khung hình theo lịch phát sóng. Có thể lên sóng chỉ từ VTR hoặc lẫn lộn VTR- Clips. Phần mềm này cũng cho phép chỉnh sửa playlist của ngày phát sóng, thực hiện các thao tác điều khiển phát sóng, kiểm tra hoạt động của server để trong trường hợp server lên sóng bị lỗi, nó sẽ tự động chuyển tín hiệu phát sóng sang server còn lại. Phần mềm có khả năng tự phục hồi trạng thái. Có thể khởi động lại máy tính điều khiển phát sóng mà không ảnh hưởng việc lên sóng. Sau khi khởi động lại, phần mềm tự phục hồi trạng thái và hiển thị tiếp tục trạng thái hiện tại của các server.
HD Manager là phần mềm quản lý hệ thống. Phần mềm này hiển thị đồ họa dung lượng của hệ thống. Phần mềm tự động dọn dẹp đĩa cứng thông minh theo thời gian sống của clips được đặt trước và theo lịch phát sóng.
HD Mirrowing Là phần mềm dựa trên ftp để tự động thực hiện việc đảm bảo 02 thư mục trên 02 máy khác nhau có cùng nội dung.
Bộ phần mềm HD Automation hiện tại là bộ phần mềm tiếng việt duy nhất và đang có nhiều kênh nhất sử dụng nhất tại việt nam. Bộ phần mềm này đang được khai thác hiệu quả ở kênh VTV1, VTV2, VTV3, VTV4, VTV5,VTV6, CVTV1, CVTV2, HVTV, TODAYTV, VITV, HBTV, K+1, K+2, K+1HD, K+2 HD. Trong vòng tháng tới ở cả Saigon Channel và K+3 HD.
2. HD GRAPH
HD Graph là bộ phần mềm phát sóng đồ hoạ. Hệ thống này được phát triển dựa trên thành công của hệ thống đồ họa phục vụ Indoor Game III phát triển bởi HD Việt nam.
Là hệ thống đồ họa duy nhất tương tác trực tiếp với CSDL, hệ thống HD Graph cho phép lập lịch lên sóng chi tiết và chính xác đến từng khung hình. Hệ thống gồm 02 thành phần:
HD Graph onair
HD Graph Scheduler

Phần mềm HD Graph Scheduler cho phép biên tập đồ họa lập lịch lên sóng các đồ họa hay chuỗi đồ họa được tạo ra sẵn trên các phần mềm đồ họa chuyên biệt như Photoshop hay các phần mềm animation như Studio Max. Trong quá trình lập lịch, biên tập viên có thể định vị vị trí khởi động đồ họa theo mốc tương đối là thời điểm phát sóng của các clip video. Điều này cho phép đồng bộ hóa giữa video và đồ họa một cách đơn giản và dễ thực hiện. Có thể lập lịch chạy chữ thông báo theo yêu cầu từ phần mềm scheduler. Kết quả lập lịch có thể xem trước trên màn hình máy tính. Trong trường hợp hệ thống có HD Trafic, có thể xem trước lịch chạy chữ hay cài đồ họa trên nền video lowress để chọn vị trí hợp lý để xuất đồ họa khi lên sóng. Có thể sử dụng không hạn chế số lượng HD Graph Scheduler trong hệ thống. Phần mềm HD Graph onair Là phần mềm phát sóng đồ họa theo lịch phát sóng từ CSDL. Các chi tiết đồ họa được lưu trữ trên hệ thống sẽ được tự động tải về máy đồ họa để lên sóng theo đúng thời điểm. Việc đồng bộ về thời gian giữa video và đồ họa được thực hiện thông qua CSDL.
3. HD TRAFFIC
Bộ phần mềm trung tâm thực hiện việc quản lý quy trình làm việc và tài nguyên số của đài truyền hình. Bộ phần mềm này gồm các module sau:
1. HD MAM
2. HD LOWRESS
3. HD SERVICE
4. HD RTB
5. HD FTP
Phần mềm HD MAM (Media Assets Management) cho phép người dùng:
- Tìm kiếm 1 file media bất kỳ trong hệ thống thông qua các tiêu chí tìm kiếm.
- Xem thông tin chi tiết của 1 file media.
- Tạo mới / Cập nhật metadata cho 1 file media
- Xem nội dung file media qua file độ phân giải thấp.
- Download file media từ hệ thống lưu trữ về máy local.
- Upload file từ máy local lên hệ thống lưu trữ.
- Thông báo về trạng thái và cập nhật trạng thái công việc trong quy trình sản xuất.
Phần lớn công việc của biên tập sẽ dựa trên HD MAM. Mọi thông tin tương tác với hệ thống lưu trữ, hệ thống phát sóng, hệ thống sản xuất chương trình đều thực hiện qua module này. Với nhiều mức quản lý user khác nhau, phần mềm được sử dụng cho cả biên tập, đạo diễn, kỹ thuật dựng, và cho cả lãnh đạo để duyệt chương trình, chấp nhận nội dung hay cấp phép phát sóng.
HD Lowress là phần mềm cho phép tự động chuyển đổi video tiêu chuẩn và video độ phân giải cao thành video phân giải thấp với tốc độ bít thấp, thích ứng với việc streaming trong mạng để phục vụ cho việc kiểm soát nội dung. HD Lowress hoạt động trên cả tư liệu và cả chương trình hoàn chỉnh. Hệ nén mặc định là WM9 và có thể được thay đổi theo yêu cầu. Mã timecode được in trực tiếp vào từng khung hình, nhờ đó người dùng có thể có các mốc chỉ dẫn để trao đổi với nhau. Phần mềm này hoạt động tự động, dựa trên thông tin về file từ CSDL và cập nhật lên CSDL mỗi khi tạo được file phân giải thấp tương ứng.
HD Service là phần mềm dịch vụ cho hệ thống. Phần mềm này thực hiện nhiều dịch vụ riêng biệt đáp ứng các yêu cầu của hệ thống. Công việc thường gặp nhất là transcoding, wraping, un-wraping media.
HD RTB là phần mềm kiểm tra chất lượng tín hiệu ở mức file. Phần mềm này có thể sử dụng một kênh server để kiểm tra chất lượng hình phát sóng, kiểm tra chất lượng và mức âm thanh và kiểm tra khả năng tương thích của file đang kiểm tra và hệ thống phát sóng. Việc kiểm tra tính tương thích của file rất quan trọng. Rất nhiều trường hợp file có thể phát được bởi hệ thống phát sóng nhưng không hoàn toàn. Nhiều trường hợp file bị lỗi ở giữa chừng gây mất sóng. Các lỗi file này cần được phát hiện sớm trước khi phát sóng. HD RTB được thiết kế để tìm các lỗi này.
HD FTP là phần mềm tăng tốc truyền file trên mạng. Phần mềm cho phép cắt file ra thành nhiều mảnh để truyền qua mạng. Mục đích tăng tốc, sử dụng tối đa tốc độ đường truyền vào truyền file và cho phép truyền tiếp file sau khi bị đứt mạng để tiết kiệm thời gian, tránh phải truyền lại. Một số option của HD Fpt cho phép thực hiện việc truyền file đồng thời với một số tác vụ thuộc HD service như đóng gói lại file theo tiêu chuẩn khác. HD ftp cho phép tiếp tục truyền file sau khi bi dừng vì lỗi (Resume).
4. HD SAT
Bộ phần mềm HD SAT thực hiện chức năng của hệ thống điều khiển và quản lý nội dung ghi hình theo lịch định trước. Phần mềm được thiết kế để ghi nhiều kênh vệ tinh hoặc các chương trình trực tiếp một cách tự động theo lịch lập sẵn từ xa thông qua hệ thống CSDL. Việc đặt hàng ghi hình có thể được thực hiện từ bất kỳ máy tính có cài HD MAM nào. Hệ thống phần mềm HD SAT sẽ tự động thu nhập tất cả các yêu cầu ghi từ CSDL, tự động phân phối kênh ghi và tự động chuyển router để thực hiện việc ghi hình. Việc ghi hình, trả kết quả ghi xảy ra một cách tự động không cần can thiệp hoặc cũng có thể được khởi động bằng tay để thích ứng tốt hơn với các sự kiện trực tiếp không cố định thời gian.
Bộ phần mềm HD SAT gồm 2 phần mềm:
HD Ingest Scheduler: cho phép quản lý các clip cần ghi trên 1 giao diện màn hình duy nhất, điều khiển các server ghi để ghi theo lịch, đặt yêu cầu upload các clip đã ghi lên NAS hoặc đến các hệ thống dựng hình, phát lại các clip đã ghi.
HD IngestServerManager: phần mềm này có chức năng quản lý dung lượng ổ cứng của các server ghi đảm bảo server không bị đầy ổ bằng cách xóa bỏ các clip cũ nhất, đã được upload lên NAS. HD SAT có thể hoạt động với bất kỳ server tiêu chuẩn nào có cổng điều khiển theo giao thức VDCP. Trong trường hợp K2 của GVG, phần mềm có thể điều khiển kênh ghi trực tiếp qua giao thức riêng của GVG qua mạng Ethernet. Hệ thống phần mềm này cũng được cung cấp kèm server ghi hình chuyên biệt chuyên phục vụ cho công tác ghi hình từ vệ tinh.
5. HD BILLING
Bộ phần mềm HD BILLING là hệ thống phần mềm chuyên phục vụ cho quản lý khách hàng, quản lý quảng cáo và lập hóa đơn quảng cáo.
Bộ phần mềm gồm các phần mềm sau:
HD add : chuyên sử dụng để nhập quảng cáo, quản lý các clips quảng cáo và hợp đồng quảng cáo.
HD Booking: sử dụng để book quảng cáo. Phần mềm này có phiên bản WEB cho phép khách hàng đăng ký trực tuyến. Quảng cáo được book bởi khách hàng sẽ được tự động xếp vào lịch phát sóng. Quảng cáo được book vào các mã thời gian theo quy định chung của đài. Khi book quảng cáo, hệ thống cho phép xem trước lịch phát sóng của kênh và trong trường hợp có lowress, phần mềm cho phép xem được trước chương trình phát sóng cùng với quảng cáo. HD Invoice: Phần mềm này kết hợp AS-RUN-LOG được tạo ra bởi hệ thống HD AUTOMATION với lịch phát sóng để xác nhận việc lên sóng của một cut quảng cáo. Với thông tin lên sóng cùng thông tin về đơn vị đăng ký, phần mềm sẽ tạo ra các bản báo cáo thống kê chi tiết theo tiêu chí yêu cầu cũng như tổng hợp invoice của từng đơn vị để chuyển hệ thống kết toán.
6. HD ARCHIVING
Hệ thống phần mềm HD Archiving cho phép tạo bản sao lưu trữ lâu dài cho tài nguyên số của đài. Việc sao lưu các bản sao của tài nguyên số sẽ được thực hiện một cách tự động. Với các băng LTO5 hiện tại, dung lượng lưu trữ cho 01 băng là 1.6 TB. Các băng lưu trữ được quản lý bằng barcode.
7. HD EVIDENCE
HD Evidence là giải pháp trọn gói cả phần mềm và phần cứng để thực hiện việc ghi hình bằng chứng phát sóng. Chương trình phát sóng được ghi lại cùng với mã thời gian in trực tiếp lên khung hình và được nén với tốc độ bít thấp, đảm bảo dung lượng lưu trữ thấp. Định dạng ghi mặc định là WM9 100kbps và có thể được thay đổi bởi người sử dụng. Bộ phần mềm này có 02 module:
HD Evidence Rec: Là phần mềm chịu trách nhiệm ghi hình phát sóng. Tín hiệu ghi hình có thể là tín hiệu từ anten hoặc tín hiệu video từ đầu thu tín hiệu. HD Evidenct browser: Phần mềm kết hợp AS-RUN-LOG với file hình ghi lại bởi HD Evidence Rec cho phép người sử dụng xem lại bất kỳ clips video nào đã được lên sóng. Người xem chỉ việc kích đúp vào lịch phát sóng đọc ra từ AS-RUN-LOG để xem lại chương trình đã phát. HD Evidence có thể được kết hợp với WEB để đưa dịch vụ này lên mạng.
8. HD NEWS
HD NEWS là bộ phần mềm cho phép đài quản lý tin bài, kịch bản, bản dịch và thực hiện việc tự động hóa phát sóng thời sự. Bộ phần mềm này gồm các phần mềm thành phần sau:
HD iNews
HD Rundown
HD Newsplay
HD Prompter
HD iNews là phần mềm soạn thảo văn bản với khả năng gửi tin nhắn, cảnh báo và tạo liên kết văn bản với các tư liệu cần thiết cho việc dựng thời sự, phóng sự hay thậm chí phim truyện. Phần mềm được thiết kế để lưu lại nhiều bản lưu khác nhau, để đảm bảo được quá trình truy cứu trách nhiệm về sau.
Bản tin bài đầu tiên được đưa vào hệ thống sẽ luôn được lưu lại mà không có chỉnh sửa nào. Bản tiếp theo sẽ là bản làm việc. Bản làm việc luôn được cập nhật bởi những người phụ trách và chịu trách nhiệm nội dung. Mỗi lần bản làm việc bị cập nhật, nó sẽ lưu bản trước đó vào bản lưu. Hệ thống cho phép làm việc với 5 bản lưu. Người phụ trách có thể quyết định để chuyển trả bản lưu thành bản làm việc bất kỳ lúc nào. Tin bài được duyệt sẽ bị khóa. Không còn sửa chữa được. Các đoạn text được đánh dấu prompter sẽ được chuyển thẳng đến máy nhắc lời (prompter) khi đến thời điểm lên sóng. HD Rundown là phần mềm cho phép lập lịch phát tin. Các tin có thể được tổ chức theo từng nhóm làm chương trình như: Tin trong nước, tin nước ngoài, tin kinh tế... . Phần mềm cho phép tạo các nhóm tin và lập lịch độc lập cho từng nhóm tin này. Thông tin về tốc độ đọc của từng phát thanh viên sẽ được lưu ở profile riêng, nhờ đó hệ thống cho phép dự kiến được thời gian của bản tin hay của chương trình.
Rundown được lưu ở CSDL và được toàn bộ hệ thống nhận biết và sử dụng ngay lập tức.
HD Newsplay là phần mềm phát sóng đặc biệt dùng cho trường quay thời sự. Phần mềm này thực hiện việc tự động hóa lên sóng đối với các đoạn phóng sự và tin bên ngoài. Phần mềm sẽ tự động điều khiển router, switcher, audio mixer và kết hợp với HD Graph thực hiện đồ họa lên sóng theo kịch bản. HD Prompter cho phép hiển thị tin lên màn hình promter đồng bộ với phần mềm HD Newsplay. Tốc độ hiển thị sẽ mặc định theo phát thanh viên và có thể thay đổi khi thực hiện.
9. HD AIREDIT
Hệ thống “HD AIR EDIT” là hệ thống cho phép ghi lại tín hiệu thu từ vệ tinh hoặc tín hiệu trực tiếp, chèn thêm nội dung, cắt bớt nội dung, kiểm soát nội dung và phát trễ so với thời điểm ghi một khoảng thời gian xác định.
Phần mềm được thiết kế để làm việc với server 03 kênh: 01 kênh để ghi tín hiệu đầu vào, 01 kênh để phát tín hiệu ra, 01 kênh để kiểm soát nội dung, xem nội dung, cắt, chèn thay thế....
Hệ thống có thể sử dụng để làm chương trình trực tiếp có trễ hoặc có thể được sử dụng để chèn thêm quảng cáo vào bất kỳ chương trình nào với chất lượng chèn đạt đến độ chính xác frame đảm bảo chất lượng của chương trình sau khi sửa nội dung.
6. THỰC TẾ ỨNG DỤNG
Phần mềm tiếng Việt đã tìm được chỗ đứng vững chắc trong ngành truyền hình với nhiều kênh lớn, có số lượng người xem đông như các kênh VTV. Các kênh có vốn đầu tư nước ngoài như TodayTV hay K+ cũng tìm thấy ở phần mềm tiếng Việt nhiều ưu điểm so với phần mềm nhập ngoại. Với khả năng tùy biến- có thể được chỉnh sửa theo thói quen và trình độ khai thác của nhà đài- cũng như khả năng xử lý nhanh các lỗi phần mềm và sự cố vận hành và trước hết, thời gian học sử dụng hệ thống phần mềm tính bằng giờ, phần mềm tích hợp tiếng Việt thực sự đáp ứng yêu cầu của các Đài trong thời kỳ mới.


TS. NGUYẾN HUYỀN DIỆU
Công ty TNHH HD VIETNAM
WWW.HDVIETNAM.COM.VN
Dieu@hdvietnam.com.vn

1. KHÁI NIỆM TÀI NGUYÊN SỐ

Tài nguyên số của một Đài truyền hình (TNS) là khái niệm tương đối rộng. Chúng ta bắt gặp TNS ở hầu hết các hoạt động của Đài. Các tài nguyên này có thể liệt kê như sau:
- Chương trình, tư liệu truyền hình: Video HD, SD, Video độ phân giải thấp (Lowress)
- Đồ họa và ảnh tĩnh.
- Chương trình, tư liệu phát thanh: Audio
- Voice over - các kênh tiếng thuyết minh hoặc lồng tiếng.
- Subtile- phụ đề
- Kịch bản chương trình
- Tóm tắt, mô tả nội dung
- Lịch phát sóng
- Booking quảng cáo
- Danh sách khách hàng, đối tác..v.v.
Các tài nguyên đó hiện nay đang phân tán trên nhiều máy tính khác nhau, trên nhiều mạng khác nhau và phần lớn không được đánh số, chỉ mục, phân loại gây khó khăn lớn cho việc tìm kiếm, truy xuất và quản lý và bảo vệ tài nguyên.
Việc thiếu quản lý trung tâm đối với TNS ngày càng gây nhiều bất cập trong công tác quản lý và sản xuất hàng ngày của lãnh đạo và biên tập các Đài. Với tốc độ phát triển chóng mặt các TNS trên hệ thống tạo ra nhu cầu bức xúc đối với việc quản lý TNS.

2. PHƯƠNG ÁN TỔ CHỨC LƯU TRỮ TÀI NGUYÊN SỐ

a. MỐI LIÊN HỆ VÀ PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN SỐ
Để tổ chức lưu trữ, trước tiên phải nghiên cứu liên hệ giữa các nguồn tài nguyên và trên cơ sở đó, phân loại và tìm hình thức lưu trữ và tạo chỉ mục thích hợp cho từng nguồn tài nguyên.
Việc phân loại tài nguyên có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Áp dụng một bộ tiêu chí sẽ tạo ra một giải pháp quản lý riêng. Việc đánh giá ưu tiên các tiêu chí khác nhau cũng tạo nên sự khác biệt trong giải pháp lưu trữ. Chúng ta cũng chỉ bàn đến các tài nguyên số hoặc đã được số hóa. Trong khuôn khổ bài viết, chúng ta sẽ không bàn tới vấn đề số hóa các tài nguyên.
Theo cách rất tự nhiên sẽ có cách phân loại dựa theo nội dung của TNS. Với tiêu chí đó, chúng ta sẽ có rất nhiều loại TNS: Phim truyện, phim tài liệu, phóng sự, kịch bản phim, thời sự ngày, kịch bản phóng sự, bảng chữ cuối ngày, logo.... Phân lọai theo tiêu chí nội dung sẽ có ích cho việc tìm kiếm. Tuy nhiên, trong tổ chức lưu trữ, tiêu chí này gây bất lợi ở nhiều khía cạnh và thực tế chỉ được sử dụng khi tổ chức lưu trữ theo cây thư mục hiện tại. Lưu trữ theo cây thư mục theo nội dung là phương án quản lý TNS đang được sử dụng rộng rãi ở phần lớn các đài. Phương án này thậm chí được sử dụng cả với các bộ lưu trữ trung tâm có kích thước lớn nhiều chục Tetrabyte.
Tiêu chí tiếp theo có thể là tiêu chí về thời gian.
Phương án dựa trên tiêu chí này được phần lớn các đài sử dụng để tổ chức lưu trữ các chương trình- TNS có tính thời sự cao.
Ưu điểm của hai phương án tổ chức này là dễ thực hiện và rẻ tiền. Đây gần như là phương án bắt buộc khi chưa đầu tư các hệ thống quản lý hiệu quả hơn. Việc tổ chức này trong trường hợp làm tốt có thể ví với thư viện mà sách được phân loại theo nội dung sách còn báo và tạp chí thì phân loại theo ngày với bảng chỉ dẫn chia nhỏ ở từng tầng, từng phòng, giá, ngăn...
Phương án phân loại thứ ba là phân loại dữ liệu dựa trên tiêu chí về dung lượng lưu trữ. Các dữ liệu chiếm dung lượng lớn như Video, audio, đồ họa.. sẽ được xếp vào loại “MEDIA”. Các dữ liệu chiếm dung lượng bé hơn, phần lớn ở dạng text sẽ được xếp vào “METADATA”. Mặc dù Metadata theo định nghĩa là dữ liệu về dữ liệu, mọi dữ liệu khác với media đều có thể hiểu cách này hay cách khác theo nghĩa này.
Phương án phân loại này sẽ mặc định tạo ra phương án lưu trữ đại trà. Theo đó Media sẽ được lưu trữ ở các bộ lưu trữ trung tâm dung lượng lớn mà không phân mục chi tiết. Ngược lại Metadata sẽ được tổ chức ở máy tính riêng với đầy đủ thông tin về chỉ mục và đường dẫn đến các media liên quan.
Phương án tổ chức này chỉ có thế được thực hiện khi sử dụng các hệ thống quản lý được tổ chức theo cơ sở dữ liệu (CSDL). Phương án này giống với việc tổ chức thư viện theo số sách (số chỉ mục). Các cuốn sách được xếp theo thứ tự từ bé đến lớn theo trật tự nhất định. Cơ sở dữ liệu trong máy tính sẽ cung cấp cho bạn đọc chi tiết cuốn sách nào ở tầng nào, phòng nào, ngăn số mấy. Việc lựa chọn sách sẽ gói gọn lại chỉ còn là việc lọc các tiêu chí về cuốn sách mình cần để có được nơi lưu trữ và tìm đến địa chỉ của cuốn sách để lấy sách.
Theo phương án này, toàn bộ dữ liệu metadata sẽ được lưu trữ ở CSDL. Toàn bộ media sẽ được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ trung tâm và trong các vật liệu mang thông tin khác như đĩa cứng offline, đĩa quang, băng LTO hoặc các băng ghi video và thẻ nhớ.
Phương án này chính là phương án mà toàn bộ ngành truyền hình trên thế giới đang theo đuổi và cũng chính là chiến trường của hàng chục hãng phần mềm và tích hợp hệ thống với hàng chục sản phẩm khác nhau nhưng giống nhau ở một điểm: Không một sản phẩm nào được đóng gói hoàn chỉnh đến mức có thể triển khai ở bất kỳ nhà đài nào với đầy đủ tính năng thiết kế mà không phải sửa mã nguồn phần mềm (code) !
b. TỔ CHỨC LƯU TRỮ MEDIA
Phương án tổ chức lưu trữ Media đã được các chuyên gia trong ngành truyền hình gần đây mổ xẻ rất nhiều trong các bài báo trên tập san Khoa Học Kỹ thuật Truyền hình. Trước hết, về mặt đặc điểm lưu trữ, phần lớn các tác giả đều nhất trí về việc tổ chức thành 2 hệ thống lưu trữ vật lý:
• Hệ thống thiên về lưu trữ tư liệu với tốc độ bít lớn- đến 3Gbps cho một dòng dữ liệu chương trình. Định dạng lưu trữ ở đây phụ thuộc vào loại tư liệu và gắn chặt với mạng SXCT tốc độ cao để thực hiện việc chia sẻ tư liệu và tạo môi trường cộng tác giữa các biên tập viên và đạo diễn ở khâu SXCT.
• Hệ thống thứ hai thiên về lưu trữ chương trình hoàn chỉnh, theo đó các chương trình hoàn chỉnh sẽ được nén lại theo định dạng MPEG-2 Long GOP để lưu trữ lâu dài và để phát sóng. Tốc độ bít của mạng này không cần vượt quá 50 Mbps cho một dòng chương trình HDVT và 15 Mbps cho SDTV. Để đảm bảo chất lượng, thông thường MPEG-2 4:2:2 Long GOP là lựa chọn hợp lý.
Ngoài hai hệ thống chính trên, cần phải nhắc tới hệ thống lưu trữ thứ 3 – Lowress. Do không chiếm nhiều không gian lưu trữ nên việc tổ chức lưu trữ nó cũng không phức tạp nên thường ít được nhắc tới. Trong phần lớn trường hợp, Lowress thường được tổ chức riêng trên Streaming Server và đi kèm với dịch vụ WEB của hệ thống.
Đối với cả 03 hệ thống trên, cần thiết phải tổ chức việc lưu trữ backup và lâu dài. Về cơ bản, có các mô hình sau: Disk only
Disk to Disk
Disk to Tape
Disk to Disk to Tape (D2D2T)
Phần lớn các đài hiện đang ở giai đoạn Disk only.
Disk to Disk đang sử dụng ở phần lớn các kênh lớn với nội dung phát sóng hiện tại được lưu trên Server phát sóng, đồng thời được lưu trữ trên NAS.
Trên thực tế, LTO đã trở thành chuẩn backup không chỉ của ngành truyền hình mà của toàn bộ ngành IT của thế giới. Với xu thế tất yếu đó, phần lớn các đài sẽ dần chuyển sang giải pháp Disk to Disk to Tape. Đài có đầu tư lớn sẽ sử dụng Tủ băng tự động. Đài có đầu tư nhỏ hơn sẽ sử dụng mỗi đầu ghi băng LTO cùng với nhiều tủ hút ẩm. Băng LTO5 hiện tại cho phép lưu trữ lên tới 1.6TB trên một băng duy nhất. Cần phải để ý rằng, phần lớn TNS của đài truyền hình đã được nén tối đa nên không thể dùng tiện ích nén của LTO trong quá trình lưu trữ băng. Băng LTO5 thường được quảng cáo với dung lượng 3.2 TB có nén. Nếu nén lại video - audio, dung lượng lưu trữ thay vì giảm lại còn bị tăng cao (!) tức chúng ta sẽ bị thiệt khi lưu trữ.
Sự khác biệt rất lớn giữa backup của truyền hình và của IT tạo nên sự khác biệt trong giải pháp lưu trữ backup. Mục đích của lưu trữ backup của IT là đưa server trở lại trạng thái trước khi có vấn đề với số lượng dữ liệu mới bị mất mát càng ít càng tốt. Ngược lại, lưu trữ backup của truyền hình không quan tâm tới trạng thái của server mà chỉ quan tâm tới TNS - dữ liệu trong server. Chính vì lẽ đó, giải pháp backup cho truyền hình cũng khác nhiều so với IT. Mục tiêu backup của truyền hình là lưu càng nhiều bản sao của cùng một TNS trên càng nhiều máy khác nhau hay trên càng nhiều băng LTO khác nhau càng an toàn. Hơn nữa, toàn bộ TNS của Đài phải được backup lên nhiều vị trí ngay lập tức khi nó vừa được tạo ra thì mới đáp ứng được yêu cầu về an toàn tài nguyên của đài.
c. LƯU TRỮ META DATA
Metadata có ý nghĩa sống còn đối với Đài truyền hình. Một khi đã sử dụng hệ thống quản lý CSDL, nếu hệ thống chỉ mục này không hoạt động thì toàn bộ hệ thống sẽ bị tê liệt. Chính vì lẽ đó, nó không thể ngưng hoạt động trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Thiết kế phức tạp nhất cho CSDL với khả năng cung cấp dịch vụ cho số lượng lớn truy cập được thực hiện thông qua các hệ máy tính bó (clustering). Các máy tính bó phải được tổ chức trong mạng Fiber Channel được bảo vệ kép dữ liệu và nhờ đó, nhiều máy tình cùng chia sẻ nhau dữ liệu duy nhất. Các yêu cầu từ bên ngoài gửi đến hệ thống máy tính bó sẽ được chia đều tải trên các máy tính xử lý. Giải pháp này đắt đỏ và dư thừa công suất so với yêu cầu của một đài truyền hình nên thông thường khó tìm thấy trong thực tế. Hiện tại chỉ có các đơn vị truyền hình cáp, với yêu cầu truy cập CSDL lớn và số lượng bản ghi lên đến mức hàng triệu bản ghi mới cần đến CSDL loại này. Với sự tăng trưởng nhanh chóng của TNS của các đài, sự cần thiết phải sử dụng đến giải pháp này có thể cũng cũng không còn xa.
Giải pháp đơn giản và tiết kiệm nhất hiện nay để giải quyết bài toán tổ chức CSDL là sử dụng CSDL mirrowing. Theo phương án tổ chức này, 2 máy tính giống nhau được bô trí thành hai CSDL độc lập. Tại một thời điểm chỉ có một CSDL họat động, tuy nhiên, dữ liệu của CSDL được liên tục cập nhật lên máy thứ 2. Có thể bố trí nhiều hơn 1 máy mirrowing với nhiều chế độ mirowing khác nhau. Các chế độ khác nhau sẽ khác nhau ở thời gian và cách thức mà CSDL mirrowing được cập nhật thông tin theo CSDL chính đang chạy.
Phương án sử dụng CSDL mirrowing hiện đang được sử dụng rộng rãi cho các kênh lớn ở VN.

3. TỔ CHỨC CÔNG VIỆC VỚI HỆ THỐNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN SỐ

a. QUY TRÌNH CÔNG VIỆC CHUNG
Với việc đưa vào sử dụng hệ thống CSDL để quản lý tài nguyên số, công việc ở đài sẽ có thay đổi lớn về bản chất. CSDL sẽ bao trùm lên mọi hoạt động của Đài. Sẽ không còn cần thiết phải sử dụng các cây thư mục trong các hệ thống lưu trữ cũng như không cần thiết phải thực hiện việc chia sẻ các thư mục dùng chung trên mạng. Mỗi vị trí làm việc sẽ chỉ biết tới công việc của mình và chỉ cần biết tới tổ chức lưu trữ cục bộ của máy mà không cần quan tâm đến bên ngoài. Hệ thống quản lý sẽ phải làm toàn bộ các dịch vụ cần thiết để phục vụ nhanh chóng mọi yêu cầu của người sử dụng hệ thống cho dù người đó là giám đốc, biên tập viên hay kỹ thuật dựng. Sơ đồ lưu chuyển công việc dưới đây phản ánh phần nào quy trình công việc chính của Đài sau khi thực hiện việc quản lý tài nguyên:
b. QUY TRÌNH CÔNG VIỆC CHO LÃNH ĐẠO Lãnh đạo đơn vị bắt đầu bằng việc duyệt tin bài, kịch bản. Hệ thống quản lý sẽ sàng lọc để hiển thị cho lãnh đạo thứ tự ưu tiên của tin bài, kịch bản cần duyệt. Kịch bản được duyệt sẽ được biết đến ngay lập tức trên toàn hệ thống và nhờ đó cả hệ thống có thể khởi động để thực hiện chương trình. Chương trình thực hiện xong sẽ phải khai báo cho hệ thống để hệ thống biết được vệ sự tồn tại của chương trình mới. Nếu việc khai báo đã được thực hiện trước đó để phục vụ mục tiêu xếp lịch phát sóng trước, sau khi thực hiện chương trình xong, cần thiết phải tạo kết nối giữa metadata đã khai báo và media. Việc khai báo sẽ cho phép hệ thống quản lý có được đầy đủ thông tin chính xác về media. Việc khai báo metadata phải được thực hiện bởi biên tập và kỹ thuật dựng.
Chương trình hoàn chỉnh chờ lên sóng sẽ phải qua công đoạn kiểm tra trước khi lên sóng cuối cùng cua Tổng biên tập hoặc đơn vị kiểm duyệt. Một chương trình không thể được lên sóng cho đến khi có dấu kiểm duyệt cuối cùng này.
c. QUY TRÌNH CÔNG VIỆC CHO BIÊN TẬP
Với hệ thống quản lý TNS, công việc của biên tập sẽ được giảm nhẹ và năng suất lao động sẽ được tăng cường đáng kể.
Với khả năng truy cập ngay lập tức vào kho TNS của Đài, biên tập viên có thể biết chính xác ngay lập tức thứ mình đang có trong Đài, các nội dung tương tự đã được thể hiện và các tư liệu về vấn đề mình quan tâm.
Thay vì mất rất nhiều thời gian tìm kiếm băng và xem băng, biên tập viên có thể lựa chọn tư liệu hoặc chương trình hoàn chỉnh theo tiêu chí lọc tin mà mình đưa ra. Việc tìm kiếm thông tin trong CSDL là cực kỳ hiệu quả và nhanh chóng.
Với hệ thống lowress được thiết lập như là một dịch vụ của hệ thống quản lý TNS, biên tập viên có thể xem nội dung của bất kỳ chương trình hay tư liệu nào trực tiếp từ máy tính của mình. Nhờ đó, giảm được đang kể thời gian chọn tư liệu và tăng cao được năng suất và chất lượng chương trình. Lowress có thể được tổ chức như là file phát qua mạng hoặc như video được streaming qua mạng. Lowress cho phép giảm đáng kể chi phí cho hệ thống mạng, cho máy tính biên tập và giảm đáng kể chi phí khai thác, vận hành do không hao tổn các vật tư đắt tiền trong quá trình khai thác tư liệu.
Thông thường, sau khi đánh dấu đoạn quan tâm, hệ thống quản lý sẽ có trách nhiệm chuyển đoạn file yêu cầu vào thư mục cần để phục vụ việc dựng hình.
Sau đây là quy trình công việc của Biên tập:
d. QUY TRÌNH CÔNG VIỆC CHO KỸ THUẬT DỰNG
Trong hệ thống TNS được quản lý chặt chẽ, công việc của kỹ thuật dựng thu gọn vào việc chính của mình. Quy trình được thể hiện như sau:
e. QUY TRÌNH CÔNG VIỆC CHO BIÊN TẬP KÊNH
Công tác biên tập kênh hoàn toàn dựa trên CSDL chương trình của hệ thống. Với các chương trình có đầy đủ metadata và media trong hệ thống, biên tập viên kênh chỉ cần tạo playlist với sự trợ giúp của CSDL với các động tác kéo thả, chèn cắt đoạn quen thuộc.
Với các chương trình chưa có media trong hệ thống. Để biên tập kênh có thể làm việc được, các biên tập chương trình phải khai báo trước metadata của các chương trình mình đang làm hay sắp làm. Các metadata này không có link đến media nên bị xếp vào loại trống (Dummy). Sau khi chương trình được hoàn tất, các số liệu được khai báo ước định trước như độ dài chương trình, mark in, mark out sẽ được tự động sửa lại để đúng với thực tế.
Thông thường để đảm bảo quy trình quản lý, mặc dù playlist có thể được tạo cho bất kỳ ngày nào và từ bất kỳ máy tính nào trong hệ thống quản lý TNS, hệ thống sẽ hạn chế, chỉ cho phép máy tính phát sóng được quyền thay đổi playlist ở ngày cuối cùng khi lên sóng. Các máy khác không được phép sửa chữa playlist của ngày hiện tại.
f. QUY TRÌNH QUẢN LÝ QUẢNG CÁO.
Hệ thống quản lý quảng cáo có nhiều dữ liệu liên quan tới kế toán và công tác kinh doanh của Đài như doanh số và khách hàng nên cần được tổ chức riêng với CSDL riêng nhưng phải có trao đổi mật thiết với CSDL phát sóng.
Quy trình quản lý quảng cáo gắn với hệ thống quản lý TNS được mô tả như sau:
1. Các công ty book quảng cáo sẽ chuyển các băng quảng cáo hoặc đĩa CD/DVD chứa các clip quảng cáo đến trung tâm. Các clip quảng cáo của các công ty sẽ được được ghi vào server. Sẽ khuyến khích các công ty đưa clip gốc đến bằng file MPEG-2 4:2:2 tốc độ bít từ 10 đến 15 Mbps để đảm bảo chất lượng tín hiệu cao nhất và loại bỏ việc sử dụng băng, giảm tải cho đầu đọc băng. Các file này sau khi kiểm tra được chuyển vào server phát sóng. Các clips khác nhau sẽ có mã khác nhau. Mã clips trùng với mã băng
2. Các clip quảng cáo của các công ty sẽ được cập nhật vào cơ sở dữ liệu. Các clip này có thể được xem lại ngay trên màn hình video ở vị trí của nhân viên lập lịch và vị trí của nhân viên nhập clips vào hệ thống.
3. Book quảng cáo sẽ dựa vào các bản booking. Một khi có booking, dữ liệu về booking sẽ được cập nhật vào sơ sở dữ liệu booking. Nội dung cập nhật bao gồm một số thông tin cơ bản như: Đơn vị book quảng cáo, Mã đơn vị book quảng cáo, các mã thời gian book cho từng ngày, mã clips book,... Chương trình sẽ hỗ trợ đơn giản hóa việc book dài hạn ở mã thời gian cố định.
4. Web server sẽ được bố trí và đặt kết nối lên trang chủ của Đài, cho phép khách hàng sử dụng mã công ty và mật khẩu của mình để xem lịch book quảng cáo của mình. Thông tin hiển thị có thể lựa chọn theo tiêu chí tất cả các quảng cáo hay chỉ quảng cáo cho một sản phẩm. Thông tin được hiển thị bao gồm thông tin về mã thời gian/ kết hợp hoặc không kết hợp với thời gian dự kiến lên sóng cùng tên chương trình phát sóng trước và sau quảng cáo. Một số thông tin khác có thể được cấp thêm tùy theo tình hình khai thác thực tế sau này và tùy theo yêu cầu hợp lý của khách hàng.
5. Máy tính lập lịch sẽ lập lịch phát sóng cho các kênh dựa trên CSDL booking quảng cáo và các clip đã được đưa vào hệ thống. 6. Các đoạn quảng cáo (playlist) có thể được sửa lại ngay trước giờ phát sóng. Tuy nhiên để đảm bảo tính ổn định của hệ thống phát sóng, các thay đổi ở ngày phát sóng phải được thực hiện ở TKC. Những ngày chưa phát sóng có thể được thay đổi từ bất kỳ máy tính lập lịch nào.
7. Đến giờ phát sóng quảng cáo, hệ thống phát sóng tự động của các kênh có automation sẽ tự động lên sóng quảng cáo. 8. Mỗi khi phát xong một clips, hệ thống phát sóng sẽ tự động ghi lại thời điểm thực phát, thời lượng thực phát, tên clips và một vài đặc trưng khác để phục vụ mục đích kiểm tra và billing. Ghi chép này gọi là AS-RUN-LOG.
9. Hệ thống ghi hình bằng chứng phát sóng sẽ ghi lại tín hiệu phát sóng từ anten. Mỗi ngày, hệ thống sẽ ghi lại 01 file với độ phân giải thấp, tốc độ bít khoảng 100kbps tiêu chuẩn WM9. File ghi được này có thể tiếp cận tự do trong mạng của Đài.
10. Phần mềm kiểm tra tín hiệu đã phát sóng sẽ kết hợp AS-RUN-LOG với file ghi hình bằng chứng phát sóng để xem lại bất kỳ clips nào đã được phát sóng ở một ngày bất kỳ.
11. Phần mềm xác nhận book quảng cáo sẽ dựa trên AS-RUN-LOG và danh mục thực tế phát sóng từ xe màu để đánh dấu các clips đã được phát sóng trong hệ thống book lịch quảng cáo phục vụ cho mục đích kiểm tra, in báo cáo, thống kê và kế toán.

4. VẤN ĐỀ AN NINH MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN MỚI.

Việc tổ chức hệ thống quản lý TNS sẽ tạo kết nối mạng các hệ thống hiện tại còn hoạt động riêng rẽ của các đài: Hệ thống dựng hình, hệ thống máy tính biên tập, hệ thống phát sóng và internet.
Việc tổ chức các mạng độc lập, không có kết nối ra ngoài, cấm các cổng dữ liệu và cấm trao đổi dữ liệu không còn hợp với thời kỳ mới.
Thực tế chúng ta phải chấp nhận đánh đổi khi quyết định sử dụng hệ thống quản lý TNS giữa an toàn phát sóng và tiện ích với hiệu suất công việc.
Lợi ích bao giờ cũng đi liền với rủi ro. Chúng ta chấp nhận rủi ro thì sẽ đạt được một số lợi ích nhất định. Trong trường hợp xấu nhất, cần tính tới khả năng bị hacker xâm nhập và cố gắng sửa đổi chương trình phát sóng.
Tuy nhiên, có sự khác biệt về cơ bản giữa hệ thống tin học phục vụ truyền hình và một hệ thống máy chủ trên mạng. Phần lớn các máy chủ trên mạng hoạt động một cách tự động và không cần người giám sát. Các hệ thống phát sóng có rất nhiều người giám sát hoạt động của nó. Tối thiểu luôn có một người trực phát sóng. Bất kỳ sự đột nhập nào vào hệ thống gây thay đổi cho hệ thống đều dễ dàng bị phát hiện kịp thời và nhờ đó, giảm thiểu được tác hại của nó.
Việc chấp nhận rủi ro cũng như các ngân hàng chấp nhận rủi ro khi cho khách hàng kết nối qua internet vào hệ thống máy tính của ngân hàng.
Chúng ta chỉ cần ý thức được rui ro để có đầu tư thích đáng cho an ninh mạng trong hoàn cảnh mới. Nhất quyết không thể triển khai các hệ thống quản lý TNS mà không đi kèm theo đầu tư nghiêm túc cho hệ thống an ninh như tường lửa, router hoặc switcher lớp 3 và hệ thống phần mềm antivirus.
Một số thiết bị không nên cài antivirus do hiệu suất công việc bị suy giảm, như các bộ dựng phi tuyến. Một số khác không cho phép cài antivirus do hệ thống không thể chấp nhận các phần mềm có ưu tiên cao như phần mềm diệt virus như các server phát sóng hay ghi hình. Đối trường hợp đó, thông thường cần thiết phải sử dụng máy tính từ bên ngoài để kiểm soát và quét virus trên các thiết bị đặc chủng đó.
Để chống virus, một giải pháp tương đối hiệu quả là sử dụng nhiều hệ điều hành trong cùng hệ thống. Giải pháp này dựa trên thực tế là các phần mềm phá hoại thường không thể di chuyển giữa các hệ điều hành khác nhau. Nếu một số thiết bị trọng yếu sử dụng hệ điều hành khác biệt với hệ điều hành sử dụng ở Ban biên tập- đơn vị dễ bị các phần mềm phá hoại thâm nhập nhất thì hệ thống sẽ dễ dàng vượt qua các đợt lây nhiễm virus ở Ban biên tập.

5. LỜI KẾT.

Với lợi ích thiết thực từ việc tin học hóa và trào lưu tin học hóa ở tất cả các Đài truyền hình, việc sử dụng CSDL để quản lý TNS chỉ còn là vấn đề kinh phí. Với đội ngũ tin học đông đảo trong cộng đồng truyền hình, tôi tin rằng, các hệ thống quản lý TNS sẽ sớm được triển khai rộng rãi trên toàn quốc để tăng hiệu quả công việc của các Đài và giảm được nguy cơ mất sóng, nguy cơ mất tư liệu hay mất mát chương trình truyền hình. Với các sản phẩm nội sẵn có, hiệu quả quản lý sẽ được tăng cao hơn nữa do giao diện thân thiện với người sử dụng và nhờ quy trình công việc sát với đặc thù của Ngành truyền hình Việt nam.


Dr. Nguyễn Huyền Diệu
Công ty TNHH HD Việt nam.